Ngũ hành trong tử vi là gì?

Ngũ hành là nền tảng cơ bản của bộ môn khoa học tâm linh, tử vi sử dụng học thuyết ngũ hành để áp dụng giải đoán tử vi trong rất nhiều yếu tố như: cung, sao, mệnh..

 

Nguồn gốc của ngũ hành

  • Nguồn gốc của các thuyết này là từ một mô hình tối cổ về các con số gọi là Hà Đồ. Tương truyền do trời ban cho vua Phục Hy, một ông vua thần thoại của Trung Hoa, cách đây khoảng 4000 năm. Khi Ngài đi tuần thú Phương Nam, qua sông Hoàng Hà, bỗng thấy một con Long Mã hiện lên, trên lưng nó có những chấm đen trắng.
  • Khi về Ngài mới phỏng theo mà vẽ lại thành một bảng ký hiệu 10 số đếm bằng các chấm đen và trắng, xếp thành hai vòng trong và ngoài, theo đúng 4 phương: Nam, Bắc, Đông, Tây. Ở chính giữa là hai số 5 và 10. Ngài gọi là Hà Đồ, tức là bức đồ trên sông Hoàng Hà (chỉ là hình vẽ chứ không có chữ vì sự phát minh thuộc thời chưa có chữ viết).
  • Bảng Hà Đồ chia 10 số đếm thành 2 loại Thuyết Âm Dương – Ngũ Hành xuất phát từ Kinh Dịch cổ. Nguồn gốc của thuyết này là từ một mô hình tối cổ về các con số gọi là Hà Đồ. Bạn có thể tìm hiểu về Hà Đồ ở cuối bài viết nhé.

Giới thiệu các ngũ hành

  • Theo triết học cổ Trung Hoa, tất cả vạn vật đều phát sinh từ năm nguyên tố cơ bản và luôn trải qua năm trạng thái là: Thổ, Kim, Thủy, Mộc và Hỏa (tiếng Trung: 土, 金, 水, 木, 火). Năm trạng thái này gọi là Ngũ hành (五行), không phải là vật chất như cách hiểu đơn giản theo nghĩa đen trong tên gọi của chúng mà đúng hơn là cách quy ước của người Trung Hoa cổ đại để xem xét mối tương tác và quan hệ của vạn vật.
  • Học thuyết ngũ hành cho rằng, tất cả sự vật trên thế giới đều do sự vận động biến hóa của 5 vật chất cơ bản là: Hoả (Lửa), Thổ (Đất), Kim (Kim loại), Thủy (Nước, chất lỏng), Mộc (Cây cỏ) tạo nên, thế giới chỉ là một trạng thái vận động tương sinh và tương khắc của ngũ hành mà ra.
  • Ngũ hành có quy luật sinh, khắc chế hoá lẫn nhau kết hợp thành hệ chế hóa, biểu thị mọi sự biến hóa phức tạp của vạn vật.

Tương sinh tương khắc của các ngũ hành

Ngũ Hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ khi tương tác lẫn nhau cũng phải theo cơ chế hai chiều đối xứng là Âm và Dương, tức cơ chế Tương Sinh và Tương Khắc. Đây là tinh thần căn bản của thuyết Ngũ Hành. Theo đó cứ hai Hành đứng kề cận nhau thì sinh cho nhau, luân chuyển mãi không ngừng, các Hành cách nhau thì khắc chế nhau, và cứ thế mà luân lưu mãi, biểu thị cho triết lý cao siêu của sự đổi thay, biến dịch của vũ trụ tự nhiên.

Ngũ hành tương sinh

Ngũ hành tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để phát triển. Đem ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến, nương tựa lẫn nhau. Trong luật tương sinh của ngũ hành còn bao hàm ý nữa là hành nào cũng có quan hệ trên hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra, ứng dụng vào y học còn gọi là mẫu và tử.

  • Thủy sinh Mộc – Màu Xanh: Nước nuôi dưỡng cây trồng.
  • Mộc sinh Hoả – Màu Đỏ: Gỗ cháy sinh ra lửa.
  • Hoả sinh Thổ – Màu Vàng: Lửa cháy hết thành than.
  • Thổ sinh Kim – Màu Trắng: Lòng đất tạo nên kim loại.
  • Kim sinh Thủy – Màu Đen: Kim loại nung chảy thành nước.

Ngũ hành tương sinh

Ngũ hành tương khắc

Ngũ hành tương khắc: Tương khắc có nghĩa là áp chế lẫn nhau. Sự tương khắc có tác dụng duy trì sự cân bằng, nhưng nếu tương khắc thái quá thì làm cho sự biến hóa trở thành bất thường. Trong tương khắc, mỗi hành cũng lại có hai mối quan hệ: Cái khắc nó và cái nó khắc. Từ quy luật tương khắc, bàn rộng thêm ta có tương thừa (nghĩa là khắc quá đỗi) và tương vũ (nghĩa là khắc không nổi mà bị phản phục lại).

  • Mộc khắc Thổ : Tụ thắng tán – Cây phá đất mà mọc lên.
  • Thổ khắc Thủy : Thực thắng hư – Đất có thể ngăn nước.
  • Thủy khắc Hoả : chúng thắng quả, nhiều thắng ít – Nước có thể dập lửa.
  • Hoả khắc Kim : Tinh thắng kiên – Lửa có thể đốt cháy kim loại.
  • Kim khắc Mộc : cương thắng nhu – Thép cứng rèn dao chặt cỏ cây.


Ngũ hành chế hoá

Như minh họa trong hình dưới, quy luật ngũ hành chế hóa nói về việc làm giảm sức mạnh của hành khắc chế và phục hồi lại sự cân bằng (tương sinh) của các hành có liên quan. Trong phong thủy, thường quy luật chế hóa được dùng để hóa giải khí tiêu cực hay khí khắc chế. Quy luật chế hóa bao gồm cả hiện tượng tương sinh và tương khắc và được thế hiện bằng đường đứt nét chạy ngược chiều kim đồng hồ.
Nhưng một hành chế hóa (khử bớt) sẽ hóa giải khí áp chế như thế nào? Hãy xem xét một ví dụ. Nếu thủy khắc hỏa, thì theo bạn nên giảm sức mạnh của thủy như thế nào? Bạn sẽ thêm thổ, kim hay mộc? Nếu câu trả lời là thổ, xin hãy nghĩ lại. Đúng là đất sẽ áp chế sức mạnh của nước (tương khắc), nhưng nó cũng dập bớt lửa (quy luật chế hóa). Khi ấy thố trở nên quá mạnh so với thủy và hỏa. Còn nếu bạn cho là dùng kim đễ giảm bớt sức mạnh của thủy thì cũng không đúng. Kim sinh thủy (tương sinh), nếu làm thế thì bạn sẽ gia tăng thêm sức mạnh của thủy. Câu trả lời đúng ở đây là phải dùng mộc. Cây vừa hấp thụ bớt nước (quy luật chế hóa) vừa cấp thêm nhiên liệu (tương sinh) cho lửa (đang có nguy cơ bị nước làm cho tàn lụi). Như vậy, nếu thêm mộc, trật tự tự nhiên của khí được phục hồi.

ngu hanh che hoa

Tìm hiểu về Hà Đồ


Bảng Hà Đồ chia 10 số đếm thành 2 loại số đối xứng nhau:

  • Số Dương, số Cơ, số Trời: 1, 3, 5, 7, 9.
  • Số Âm, số Ngẫu, số Đất: 2, 4, 6, 8, 10.
  • Số Sinh: 1, 2, 3, 4, 5.
  • Số Thành: 6, 7, 8, 9, 10.

Tuy nhiên, trong Hà Đồ không phải chỉ có Âm Dương, bởi vì chỉ riêng cơ chế Âm Dương thì không đủ giải thích mọi biến thiên phức tạp của vũ trụ. Trong đồ hình còn có cả nội dung tương tác của 10 số đếm, thông qua sự định vị 5 con số đầu tiên là 5 con số Sinh, đại diện cho 5 yếu tố vận động trong vũ trụ, đã được ghi rõ trong bài ca quyết:

  • Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành chi.
  • Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành chi.
  • Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành chi.
  • Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành chi.
  • Thiên ngũ sinh Thổ, Địa thập thành chi.

Nghĩa là:

  • Số Trời 1 sinh Thủy, thành số Đất 6.
  • Số Đất 2 sinh Hỏa, thành số Trời 7.
  • Số Trời 3 sinh Mộc, thành số Đất 8.
  • Số Đất 4 sinh Kim, thành số Trời 9.
  • Số Trời 5 sinh Thổ, thành số Đất 10.

Như vậy Ngũ Hành đã được định cùng với 5 cặp số Sinh Thành ra chúng, có vị trí Tiên Thiên theo đúng các hướng của các cặp số:

  • 1-6: Hành Thủy, phương Bắc.
  • 2-7: Hành Hỏa, phương Nam.
  • 3-8: Hành Mộc, phương Đông.
  • 4-9: Hành Kim, phương Tây.
  • 5-10: Hành Thổ, ở Trung Tâm.

Ý kiến của giới sử học

  • Giới sử học lại cho rằng thuyết Ngũ Hành là do Mạnh Tử sáng lập ra. Mạnh Tử là người đầu tiên sáng lập ra Ngũ Hành. Mạnh Tử nói năm trăm năm tất có Vương Giả Hưng (từ Nghiêu Thuấn đến Vu Khang là hơn năm trăm năm)…” sách “Trung Quốc thông sử giản biên của Phạm Văn Lan” (Trung Quốc). Nhưng chính ông lại phủ nhận “… Mạnh Tử không tin Ngũ Hành bác bỏ thuật chiêm bốc dùng ngũ sắc thanh long để định cát hung. Điều đó đủ thấy thời Đông Chu thuyết Ngũ Hành đã thông dụng rồi, đến Trâu Diễn nó càng được thịnh hành…” sách đã dẫn. Luận cứ rằng Mạnh Tử sinh thời Chiến Quốc – Đông Chu liệt quốc. Mà thời này thuyết Ngũ Hành đã được ứng dụng lâu rồi. Cùng với can – chi, nó được phổ biến trong nhiều môn thuật số chiêm bốc.

Viết một bình luận